Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2014

NGẪM - 10

   Những ý tưởng mới, khi mới ra đời thường hay vấp phải sự ghẻ lạnh, phản đối của số đông, thậm chí là tuyệt đại đa số, trước khi được chấp nhận rộng rãi, đóng góp to lớn vào tiến trình văn minh của nhân loại ... 

   Sự thật nhiều khi đến từ những dự cảm, cảm giác rất "mong manh", "mơ hồ", "huyền hoặc" ..., thậm chí "ngược ngạo", "hoang tưởng", "điên rồ" ...

   Có câu :

   "Phỏng đoán trước rồi hãy chứng minh !" ( Nhà toán học Pháp H. Poincaré ) ;  

   "Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức !" ( Albert Einstein ).

   Người ta hay nói về "Giác Quan Thứ 6" ...

   Phổ thông nhất, là khi ta đọc những truyện, xem những phim trinh thám ...

   Các họa sĩ của trường phái Tân Ấn Tượng thuộc khuynh hướng Điểm Miêu, mà đại diện là Georges Seurat ( 1856 –1910 ) và Paul Signac ( 1863 – 1935 ), cảm giác rằng vật chất không phải là những hình khối đơn thuần, đông đặc, vững chắc, đồng nhất ... như các trường phái trước đó đã từng diễn họa , nên thay vì dùng cọ to để vẽ nên những mảng màu lớn đơn sắc, họ đã dùng đầu cọ nhỏ để chấm những điểm, đôi khi rất li ti, lên mặt tranh, tạo nên những mảng màu phức tạp, đa sắc, mung lung ..., sáng tạo nên những tác phẩm hội họa có hiệu ứng "lung linh" mà ngày nay thế giới được chiêm ngưỡng. Điều đó, về mặt lý thuyết, hoàn toàn tương hợp với Thuyết Nguyên Tử.

   Mô hình nguyên tử là một nội dung của lý thuyết nguyên tử, nó phát biểu rằng nguyên tử được tạo thành từ các phần tử nhỏ hơn được gọi là các hạt hạ nguyên tử. Khái niệm nguyên tử được Democritus đưa ra từ khoảng năm 450 TCN. Tuy nhiên, các nhà khoa học cổ Hy Lạp không dựa trên các phương pháp thực nghiệm để xây dựng các lý thuyết mà dựa trên siêu hình học. Chính vì thế mà từ khi Democritus đưa ra khái niệm đó cho đến tận thế kỷ thứ XVIII thì người ta mới có những bước tiến bộ đáng kể trong việc phát triển lý thuyết về nguyên tử. Trong hoá học, dựa trên Định Luật Bảo Toàn Khối Lượng và Định Luật Tỉ Lệ Các Chất Trong Các Phản Ứng Hoá Học, vào năm 1808, John Dalton ( 1766 - 1844 ) đã đưa ra lý thuyết nguyên tử của mình để giải thích các định luật trên. Lý thuyết của ông dựa trên năm giả thuyết. Giả thuyết thứ nhất phát biểu rằng tất cả vật chất đều được tạo thành từ các nguyên tử. Giả thuyết thứ hai là các nguyên tử của cùng một nguyên tố sẽ có cùng một cấu trúc và tính chất. Giả thuyết thứ ba là các nguyên tử không thể bị phân chia, không thể được sinh ra hoặc mất đi. Giả thuyết thứ tư là các nguyên tử của các nguyên tố khác nhau kết hợp với nhau để tạo ra các hợp chất. Giả thuyết thứ năm là trong các phản ứng hoá học, các nguyên tử có thể kết hợp, phân tách hoặc tái sắp xếp lại. Lý thuyết của Dalton không chỉ giải thích các định luật trên mà còn là cơ sở để xây dựng các lý thuyết khác về nguyên tử sau này.

   Cả Democritus và John Dalton đều cho rằng nguyên tử không có cấu trúc, tức là nguyên tử không được tạo thành từ các phần tử nhỏ hơn, chính vì thế người ta thường gọi các mô hình đó là mô hình sơ khai về nguyên tử. Cùng với sự phát triển của khoa học, các giả thuyết của John Dalton được xem xét lại và người ta thấy rằng không phải nguyên tử là hạt không có cấu trúc mà ngay cả nguyên tử của cùng một nguyên tố cũng có thể có tính chất khác nhau. Vào đầu thế kỷ thứ XX, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng, nguyên tử được tạo thành từ ba loại hạt hạ nguyên tử, được gọi là proton ( mang điện dương ), neutron ( không mang điện ) và electron ( mang điện âm ). Proton và neutron nằm ở trung tâm nguyên tử và tạo nên hạt nhân của nguyên tử và điện tử chiếm khoảng không gian xung quanh hạt nhân đó. Số hạt hạ nguyên tử và sự sắp xếp của các hạt đó trong nguyên tử sẽ xác định tính chất hoá học của nguyên tố. Nguyên tử của cùng loại nguyên tố có thể có số neutron khác nhau ( được gọi là các đồng vị ) nhưng số điện tử giống nhau. Những nguyên tử có cùng số proton thì cùng thuộc một nguyên tố và có những tính chất hóa học đặc trưng của nguyên tố đó.

   Mặc dù, chắc chắn, các nhà khoa học cũng đã bắt đầu tìm ra sự thật về nguyên tử từ những dự cảm mơ hồ, và bổn phận của khoa học là phải giải thích và chứng minh tính xác thực của những dự cảm mơ hồ bằng những luận cứ khoa học chính xác, bằng những thực nghiệm khoa học khách quan ... Nhưng đừng nên đòi hỏi các nhà họa sĩ phải giải thích và chứng minh cảm giác của mình bằng các luận cứ, thực nghiệm khoa học như các nhà khoa học, bởi vì xã hội loài người đã có sự phân công lao động chặt chẻ, và đó hoàn toàn không phải là nhiệm vụ của các nghệ sĩ, trong tất cả các ngành Nghệ Thuật. Nhiệm vụ của các nghệ sĩ chân chính là đưa ra các dự cảm, có thể hoàn toàn dựa trên cảm tính, rất mơ hồ, mà không cần đưa ra bất kỳ một lời giải thích nào, vì Nghệ Thuật thì, theo triết gia Kant, "nói đến nghệ thuật là nói đến thiên tài, mà thiên tài thì là lĩnh vực hoàn toàn huyền bí, tiên nghiệm" ... Óc Tưởng Tượng, Tư Duy Trừu Tượng của con người là con đường tắt để tiếp cận Chân Lý ... ! ... 

   Có một giai thoại :

   Signac là người làm việc nghiêm túc. Khi mới 20 tuổi, sau khi đọc quyển truyện của nhà văn lớn Emile Zola, chàng thanh niên Signac đã viết thư cho tác giả : "Thưa ông, trong quyển truyện sau cùng của ông, mang lên Tác Phẩm, nhân vật chính, họa sĩ Gagnières nói : Lá cờ đỏ của tôi nổi lên trên nền trời màu xanh chuyển thành màu tím ... Thật ra, để lá cờ trở thành màu tím, nền trời phải màu cam hoặc vàng ... Xin ông thứ lỗi cho nhận xét sỗ sàng của một trong những người ngưỡng mộ ông sâu sắc tận đáy lòng".

   Trước sự khẳng định một cách dứt khoát của chàng thanh niên, nhà văn đã trả lời bằng những dòng chữ lịch sự : "Xin ông nhận những lời cảm ơn nồng nhiệt của tôi về sự góp ý phê phán của ông mà chắc chắn tôi sẽ xem trọng", và sửa đổi đoạn văn trên.

   Cho nên, đối với ý kiến cho rằng : "Cái dở nhất của những người nhận mình là Trí thức đó là khả năng tự vệ văn hóa rất thấp, thậm chí không có ( thật ra là trí ngủ ) vì không bao giờ đặt vấn đề vào "hệ quy chiếu lịch sử", họ chỉ chăm chăm vào thứ họ biết mà không cần kiểm chứng ... Họ bị lệ thuộc đến đau đớn về ý nghĩ mình biết và hơn người. "Nếu bạn muốn phá vỡ một bình hoa quý bạn ít nhất cũng nên có một bình gốm để thay thế nó" ... Nếu chúng ta ai cũng đưa ra lời phán quyết mà không có trách nhiệm với lời phán quyết ấy, thì sẽ dẫn đến 2 kết cục. Thứ nhất : Lời phán ấy chẳng có giá trị gì và họ tự hạ thấp mình. Thứ hai : Đích thị họ là kẻ vô trách nhiệm xã hội kinh khủng, kết cục này người thường cũng khinh ghét chưa nói đến kẻ bị họ bôi nhọ ...", tôi e rằng người đưa ra ý kiến đó chưa hề biết cảm thụ, thưởng thức một bức tranh, một bài thơ, một đoạn văn trên phương diện nghệ thuật ...

   Mà, "người ta đánh giá trình độ văn minh của một dân tộc thông qua cách mà dân tộc đó cảm thụ nghệ thuật" !

   Cần hiểu "Có lời vì ý, được ý quên lời", "ngôn bất tận ý", "ý tại ngôn ngoại" ...

   Chế Lan Viên viết tập thơ Điêu Tàn đâu hẳn chỉ nói lên hận vong quốc của dân Chàm, viết Con Mẹ Điên đâu phải để nói về người điên, viết Bánh Vẽ đâu phải để nói về bánh ... vv ...

   Thậm chí, tôi nghi ngờ khả năng "đọc - hiểu" của người đó, và có thể nhận xét rằng não trạng của người đó đã bị "lập trình", "rập khuôn", không thể tiếp thu "cái khác" và "cái mới" !

   Người đó có thể yên tâm, nếu có thể, hoặc không thể làm khác, vì người đó đang thuộc đa số trong dân Việt, và có thể ăn ngon ngủ yên trong cơn mê muội mà  người đó đang có ... Còn tôi, với trách nhiệm của một người vẽ tranh, tuy chưa bao giờ dám tự nhận là "họa sĩ", vì tự ý thức được rằng chứ "SĨ" quá lớn và quá nặng, vẫn sẽ tiếp tục tạt những gáo nước lạnh toát, hay giáng những cái tát nảy lửa vào mặt dân Việt để đánh thức dân Việt khỏi cơn mê muội "oai linh", "hiển hách", "vinh quang", "vĩ đại", "thần thánh", "tiến bộ" ..., hầu kịp bước Văn Minh với xã hội loài người ... ! ...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét