Truyền Thuyết, Cổ Tích, Thần Thoại, Huyền Sử ... thuộc về các giá trị tinh thần, được sáng tạo, lưu truyền từ đời này sang đời khác và liên tục được cải biên theo từng thời kỳ nhận thức trong dân gian, để giải thích các sự vật hiện tượng, biểu đạt tâm tư nguyện vọng của con người đối với các thế lực siêu nhiên, tự nhiên và xã hội ; hay nhằm giải thích nguồn gốc, tôn vinh nòi giống theo các quan niệm sơ khai, tín ngưỡng cổ xưa ..., nên rất khó tìm ra dấu tích xác thực bằng các cứ liệu khoa học, di chỉ khảo cổ ...
Theo Khảo Cổ Học, nền Văn Minh Đông Sơn của ta rõ ràng đi chậm hơn nền Văn Minh Hoàng Hà ( Văn Minh Hoa Hạ ) : Tam Hoàng Ngũ Đế, Tam Đại Hạ - Thương - Chu của Trung Hoa hàng ngàn năm ...
Sử nước ta đến đời Trần mới bắt đầu biên soạn, nên nhiều việc phải dựa vào cổ sử Trung Hoa ...
Mở đầu ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ, Sử thần Ngô Sĩ Liên viết :
"Xét : Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hi thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành Vương nhà Chu ( 1063 - 1026 TCN ) mới gọi là Việt Thường thị, tên Việt bắt đầu có từ đấy.
...
Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua ( Kinh Dương Vương ). Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ".
Sử Trung Hoa cũng có chép về Thần Nông, Viêm Đế ( vua xứ nóng - phương Nam ), Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Vũ ... Ngẫm cũng hợp lý thôi, vì các phần đất có liên quan đến các vị vua ấy nay nằm trong lãnh thổ của họ, do các tộc người trong Bách Việt như Câu Ngô, Ư Việt, Dương Việt, Mân Việt ( Tôn Trung Sơn thuộc tộc này ), Nam Việt, Đông Việt, Sơn Việt, Âu Việt ( Tây Âu ) ... đều bị xâm chiếm lãnh thổ và bị đồng hóa bởi văn hóa Hán ; riêng Lạc Việt ( người Kinh ở Việt Nam ngày nay ) thoát ra sau hàng ngàn năm Bắc thuộc và tự chủ được cho đến ngày nay ...
Nếu truy nguyên nguồn gốc, thì Nam - Bắc là hai vùng văn hóa riêng biệt, "văn hóa gốc nông nghiệp" ( trọng tĩnh ) và "văn hóa gốc du mục" ( trọng động ), do những sự tràn lấn, thâm nhập, giao thoa, tiếp biến ... mà đến nay, hầu như không còn một nền văn hóa hay một chủng tộc nào còn hoàn toàn "thuần chủng". Văn hóa Hán ( phương Bắc ) vẫn phần nào "đồng hóa" với các yếu tố của văn hóa Việt ( phương Nam ) nhưng "bản địa hóa" được và vẫn giữ được ưu thế vượt trội ..., ví dụ như các tên gọi Thần Nông, Đế Minh, Đế Nghi, Đế Nghiêu, Đế Vũ ... là gọi theo cú pháp xuôi phương Nam, nếu gọi theo cú pháp phương Bắc thì phải là Nông Thần, Minh Đế, Nghi Đế, Nghiêu Đế, Vũ Đế ... vv ...
Do đó, nguồn gốc phương Nam của tộc Việt cùng các truyền thuyết liên quan là điều có thể chứng minh và giải thích, cả về mặt văn hóa lẫn lịch sử, chỉ có điều, rất khó xác định chính xác về mặt niên đại.
Truyền Thuyết LẠC LONG QUÂN - ÂU CƠ - TRĂM TRỨNG TRĂM CON có thể nhằm giải thích cách gọi nhau là "Đồng Bào" của người Việt ...
Truyền Thuyết HÙNG VƯƠNG - NHÀ NƯỚC VĂN LANG có thể nhằm giải thích hiện tượng thôn tính, hợp nhất các bộ tộc, bộ lạc riêng lẻ vào tay một thủ lĩnh hùng mạnh nhất thời bấy giờ, khi mà "thế quyền" và "thần quyền" vẫn còn trộn lẫn, thậm chí "thần quyền" còn đóng vai trò quyết định ...
Truyền Thuyết PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG có thể nhằm giải thích hiện tượng chiến tranh, ngoại xâm và chống ngoại xâm ...
Truyền Thuyết SƠN TINH - THỦY TINH có thể nhằm giải thích hiện tượng thiên tai, lũ lụt và công cuộc trị thủy ...
Truyền Thuyết BÁNH CHƯNG - BÁNH GIẦY nhằm giải thích : về chính trị, các vua Hùng đã có thể công khai tổ chức các cuộc thi để tìm người kế vị ; về nông nghiệp, người Việt thời này đã phát triển trồng lúa nước và chăn nuôi ; về triết học, bánh chưng và bánh giầy có thể tượng trưng cho quan niệm vũ trụ gồm có mặt đất hình vuông màu xanh lá cây và bầu trời hình tròn màu trắng ...
Truyền Thuyết TIÊN DUNG - CHỬ ĐỒNG TỬ phản ánh về sự du nhập của Phật Giáo ...
Truyền Thuyết MAI AN TIÊM miêu tả sự khai phá vùng đất phía Nam ( Thanh Hoá ) với giống hoa quả mới là dưa hấu ...
Cổ Tích THỦY QUÁI giải thích về tục xăm mình ...
Sự Tích TRẦU CAU giải thích về phong tục ăn trầu ...
... vv ...
Các Truyền Thuyết ấy, ít nhiều đều có tính chất hoang đường, nên các sử quan đời trước như Ngô Sĩ Liên cũng từng bàn trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư rằng :
"Còn như việc Sơn Tinh - Thủy Tinh thì rất là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi".
Chí sĩ Phan Bội Châu cũng từng viết trong bài "Ai Là Tổ Nước Ta ? Người Nước Ta Với Sử Nước Ta" đăng trên báo Tiếng Dân số ra ngày 6 tháng 1 năm 1931 rằng :
"Sử nước ta từ đời Thái cổ trước Tây lịch 2879 năm cho đến sau Tây lịch 111 năm, tất thảy là việc truyền văn : bảo rằng Hồng Bàng thị mà không biết có Hồng Bàng thị hay không, bảo rằng Lạc Long Quân mà không biết có Lạc Long Quân hay không. Bởi vì lúc đó nước ta chưa có văn tự, chưa có sử sách, chỉ theo ở miệng truyền tai nghe. Nói rằng : người đẻ ra trăm trứng, nửa thuộc về loài rồng, nửa thuộc về loài tiên, cứ theo sinh lý học mà suy ra, thiệt là theo lối thần quỷ mê tín, không đích xác gì.
...
Sách xưa có câu : "Vô trưng bất tín" nghĩa là không có chứng cớ thì không lấy gì làm tin được. Sử nước ta trở về trước nhiều điều vô trưng, thời bỏ quách đi e có lẽ đúng hơn".
Sử gia Trần Trọng Kim khi soạn sách Việt Nam Sử Lược cũng bàn rằng :
"Tóm lại mà xét, nước ta khởi đầu có quốc sử từ cuối thập tam thế kỷ : đến đời vua Thánh Tông nhà Trần, mới có quan Hàn Lâm Học Sĩ là Lê Văn Hưu, soạn xong bộ Đại Việt Sử Ký, chép từ Triệu Võ Vương đến Lý Chiêu Hoàng. Hai trăm rưỡi năm về sau lại có ông Ngô Sĩ Liên, làm quan Lễ Bộ Tả Thị Lang đời vua Thánh Tông nhà Lê, soạn lại bộ Đại Việt Sử Ký, chép từ họ Hồng Bàng đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời thượng cổ. Xem thế thì đủ biết những truyện về đời ấy khó lòng mà đích xác được. Chẳng qua nhà làm sử cũng nhặt nhạnh những truyện hoang đường tục truyền lại, cho nên những truyện ấy toàn là truyện có thần tiên quỷ quái, trái với lẽ tự nhiên cả.
Nhưng ta phải hiểu rằng nước nào cũng vậy, lúc ban đầu mờ mịt, ai cũng muốn tìm cái gốc tích của mình ở chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng loại của mình. Chắc cũng vì lẽ ấy mà sử ta chép rằng họ Hồng Bàng là con tiên cháu rồng, ... vv ...
Nay ta theo sử cũ mà chép mọi truyện, người xem sử nên phân biệt truyện nào là truyện thực, truyện nào là truyện đặt ra, thì sự học mới có lợi vậy".
Về mặt văn hóa, Truyền Thuyết, vốn thuần cảm tính, chưa qua sự sàng lọc của lý tính và học thuật, nên phản ánh chân thực nhất tâm hồn dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc, phản ánh tính độc lập và tương tác tự nhiên giữa các nền văn hóa ...
Về mặt chính trị, Truyền Thuyết "vốn là một ký ức tập thể và một tưởng tượng tập thể kéo dài nhiều đời như một cơ sở để tập hợp các bộ lạc và bộ tộc thời xa xưa", và còn tác dụng cho đến ngày nay, lấp đầy những khoảng trống mà văn học viết gây ra, do ảnh hưởng của lý tính, học thuật, và chính trị ...
Xét như Chiếu Dời Đô của Lý Thái Tổ, được xem như bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên của nước ta, mà cũng phải dựa vào Tam Đại Hạ - Thương - Chu bên Trung Hoa để thuyết phục triều thần và định hướng cho việc "dời đô", thậm chí hạ thấp hai triều Đinh - Lê, đề cao Cao Biền :
"Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế, thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh, Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương, Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ. Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế, chính Nam Bắc Đông Tây chi vị, tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải, dân cư miệt hôn điếm chi khốn, vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa, thành tứ phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế đế vương chi thượng đô. Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà ?"
Hịch Tướng Sĩ của Đức Thánh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cũng chỉ nhắc đến các tấm gương Trung Thần Nghĩa Sĩ của Hán - Đường - Tống - Nguyên bên Trung Hoa để khích lệ tinh thần tướng sĩ :
"Dư thường văn chi : Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao Đế ; Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương. Dự Nhượng thốn thán nhi phục chủ thù ; Thân Khoái đoạn tí nhi phó quốc nạn. Kính Đức nhất tiểu sinh dã, thân dực Thái Tông nhi đắc miễn Thế Sung chi vi ; Cảo Khanh nhất viễn thần dã, khẩu mạ Lộc Sơn nhi bất tòng nghịch tặc chi kế. Tự cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi ? Thiết sử sổ tử khu khu vi nhi nữ tử chi thái, đồ tử dũ hạ, ô năng danh thùy trúc bạch, dữ thiên địa tương vi bất hủ tai ! Nhữ đẳng thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa, kỳ văn kỳ thuyết, nghi tín tương bán. Cổ tiên chi sự cô trí vật luận. Kim dư dĩ Tống, Thát chi sự ngôn chi : Vương Công Kiên hà nhân dã ? Kỳ tỳ tướng Nguyễn Văn Lập hựu hà nhân dã ? Dĩ Điếu Ngư tỏa tỏa đẩu đại chi thành, đương Mông Kha đường đường bách vạn chi phong, sử Tống chi sinh linh chí kim thụ tứ ! Cốt Đãi Ngột Lang hà nhân dã ? Kỳ tỳ tướng Xích Tu Tư hựu hà nhân dã ? Mạo chướng lệ ư vạn lý chi đồ, quệ Nam Chiếu ư sổ tuần chi khoảnh, sử Thát chi quân trưởng chí kim lưu danh !"
( Ta thường nghe : Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế ; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương. Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước. Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung ; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có ? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình, thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ được ? Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói : Vương Công Kiên là người thế nào ? Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu, đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu ! Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào ? Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào ? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm, đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt ! )
Mà không nhắc đến những tấm gương trung liệt của Việt tộc như : Uy Mãnh Oanh Liệt Phụ Tín Đại Vương LÝ ÔNG TRỌNG đánh giặc Hung Nô ; Đại Than Đô Lỗ Thạch Thần CAO LỖ chế Nỏ Thần ; Thánh Chân Công Chúa LÊ CHÂN Tuẩn Tiết Theo TRƯNG NỮ VƯƠNG "Tướng Vi Trung Vi Trinh Uy Chấn Nam Phiên, Lẫm Liệt Trưng Triều Hưng Đại Nghiệp / Quận Thủ Dân Thủ Thổ Doanh Thành Biên Địa, Nguy Nga Lê Thánh Khởi Sùng Từ" ; Gia Hưng Công Chúa TRẦN QUỐC "Tô Khấu Tước Bình Trực Bả Quần Thoa Đương Kiếm Kích / Trưng Vương Dực Tải Hảo Tương Cân Quắc Hộ Sơn Hà" ; Đô Thống Thượng Tướng Quân LÊ PHỤNG HIỂU với sự tích Thác Đao Điền ; Thái Úy Việt Quốc Công LÝ THƯỜNG KIỆT với bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà ; Thái Úy Nhập Nội Kiểm Hiệu Thái Phó Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự TÔ HIẾN THÀNH văn võ song toàn, công minh chính trực ...
Bình Ngô Đại Cáo của Đại Học Sĩ Nguyễn Trãi với tuyên cáo khẳng định :
"Duy ngã Đại Việt chi quốc,
Thực vi văn hiến chi bang.
Sơn xuyên chi phong vực ký thù,
Nam bắc chi phong tục diệc dị.
Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương ..."
( Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu - Đinh - Lý - Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán - Đường - Tống - Nguyên mỗi bên xưng đế một phương ... )
( Sao lại bỏ qua nhà Tiền Lê, do quan niệm chính trị về tính "chính thống" của các triều đại phong kiến chăng !? )
Nhưng nhà Hậu Lê do ông góp công khai mở và xây dựng lại là một Chế Độ Phong Kiến Trung Ương Tập Quyền rập khuôn theo kiểu mẫu Trung Hoa, với sự thống trị tuyệt đối của tư tưởng Nho Giáo ...
Điều đó cho thấy sự lấn lướt của văn hóa Hán và sự lệ thuộc của văn hóa Việt, và văn hóa đã ảnh hưởng rõ rệt lên chính trị, chính trị ảnh hưởng mạnh mẽ lên văn học viết ...
Hay xét thời Triệu Đà diệt An Dương Vương, sáp nhập nước Âu Lạc thành lập nước Nam Việt, lập nên nhà Triệu gồm năm đời : Vũ Đế Triệu Đà, Văn Vương Triệu Hồ ( con Trọng Thủy ), Minh Vương Triệu Anh Tề, Ai Vương Triệu Hưng, Thuật Dương Vương Triệu Kiến Đức ; do ý thức chính trị, có sử gia vẫn coi Triệu Đà là vua nước Nam, có sử gia thì xếp thời nhà Triệu vào thời kỳ Bắc thuộc. Trước 1975, ở miền Nam vẫn có tên đường Triệu Đà, Lữ Gia ; sau 1975, theo quan điểm bài Trung Quốc, thì bỏ tên đường Triệu Đà, chỉ còn tên đường Lữ Gia, người đã chống lại sự nội thuộc nhà Hán nhưng thất bại ...
Lịch Sử, cái được viết ra, một phần là sự thực, một phần là quan niệm, ý thức chính trị "chủ quan" của người viết sử. Ta chỉ có thể lần ra những manh mối của sự thực xuyên qua những dòng chữ, phát hiện những cứ liệu do "vô tình" mà có được độ "khách quan" ...
Ví dụ như : Lê Long Đỉnh liệu có phải là hôn quân bạo chúa, dâm dật trác táng, "Ngọa Triều" ... không, khi mà "Chính Sử" đã "vô tình" tiết lộ :
- Cho róc mía trên đầu nhà sư, mà lại là vị vua đầu tiên cử người qua Trung Quốc thỉnh Cửu Kinh và Địa Tạng Kinh về để xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc !?
- Có tư duy kinh tế, khi cử người sang đặt thương điếm coi sóc việc giao thương buôn bán trong nội địa Trung Quốc !?
- Đích thân tuần thú, chăm lo việc đào kênh, mở đường, đóng thuyền bè cho dân đi lại an toàn, thuận tiện !?
- Năm lần ngự giá thân chinh chỉ trong 4 năm trị vì, lần cuối cùng trước khi băng khoảng 2 tháng !?
- Giết Hoàng Huynh để cướp ngôi, sự thật hay dã sử, lời đồn !? Chỉ là một nghi án lịch sử ... !? ...
Phải chăng triều sau vì muốn khẳng định tính "chính nghĩa" của triều đại mình, để thu phục nhân tâm ..., nên đã "bôi nhọ" triều trước ... !?
Vậy, ta cũng hoàn toàn có thể đặt câu hỏi khách quan : Phải chăng đảng Cộng Sản, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Cộng Hòa XHCN Việt Nam vì muốn khẳng định tính "chính nghĩa" của "triều đại" mình, để thu phục nhân tâm ..., nên đã "bôi nhọ" các đảng phái đối lập, Việt Nam Cộng Hòa ... !? ...
Theo những "tiền lệ" đã có trong "Chính Sử", câu hỏi đó không khó trả lời, chỉ là vấn đề thời gian, và, không thể thiếu, óc khoa học và lòng công bình của các nhà viết sử trong thời đại mới, thời đại văn minh, để trả lại cho Lịch Sử hai thuộc tính cơ bản và quan trọng : SINH ĐỘNG và KHÁCH QUAN !
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét