Thế Quyền ( Nhà Nước ) và Thần Quyền ( Tôn Giáo ) đều phát sinh và hiện hữu do nhu cầu của con người, nhằm giải quyết các vấn đề về vật chất ( thể xác ) và tinh thần ( tâm linh ).
Thế Quyền đã liên tục thay đổi theo quy luật khách quan qua các chế độ Công Xã Nguyên Thủy, Chiếm Hữu Nô Lệ, Phong Kiến, Tư Bản ...
Thiên Chúa Giáo dạy "Chúa ở trong mỗi chúng ta", Phật Giáo dạy "Phật tại tâm" ... Phật Giáo diễn tả trạng thái giác ngộ : "gặp Phật giết Phật, gặp Tăng giết Tăng" nhằm diệt ngã, xóa chấp. Như vậy, khi con người đạt đến sự giác ngộ, không còn "chấp mê bất ngộ" vào "sắc" : kinh kệ, giáo luật giáo lý ... ; hòa nhập tiểu ngã ( cá nhân, tiểu vũ trụ ... ) vào đại ngã ( nhân quần, vũ trụ ... ) thì tôn giáo tự tan biến vào "không" ... Cũng vậy, khi con người đã đạt đến ý thức tự giác cao, không còn cần đến sự điều chỉnh, chế tài của pháp luật, thì chính quyền cũng trở nên không còn cần thiết, nhà nước tự tan biến ... Đó là một trạng thái lý tưởng mà xã hội loài người sẽ dần dần "tiệm cận", càng ngày càng gần nhưng không bao giờ chạm tới được ...
Thiên Chúa Giáo dạy "Chúa ở trong mỗi chúng ta", Phật Giáo dạy "Phật tại tâm" ... Phật Giáo diễn tả trạng thái giác ngộ : "gặp Phật giết Phật, gặp Tăng giết Tăng" nhằm diệt ngã, xóa chấp. Như vậy, khi con người đạt đến sự giác ngộ, không còn "chấp mê bất ngộ" vào "sắc" : kinh kệ, giáo luật giáo lý ... ; hòa nhập tiểu ngã ( cá nhân, tiểu vũ trụ ... ) vào đại ngã ( nhân quần, vũ trụ ... ) thì tôn giáo tự tan biến vào "không" ... Cũng vậy, khi con người đã đạt đến ý thức tự giác cao, không còn cần đến sự điều chỉnh, chế tài của pháp luật, thì chính quyền cũng trở nên không còn cần thiết, nhà nước tự tan biến ... Đó là một trạng thái lý tưởng mà xã hội loài người sẽ dần dần "tiệm cận", càng ngày càng gần nhưng không bao giờ chạm tới được ...
Người tự giác, chấp hành pháp luật do ý thức được lẽ công chính xã hội ; người không tự giác, chấp hành pháp luật do sợ bị chế tài ... Người tự giác, làm lành lánh dữ do ý thức được đạo lý ; người không tự giác, làm lành lánh dữ do sợ bị trừng phạt ...
Do đó, Thế Quyền và Thần Quyền sẽ tồn tại mãi, và dần thay đổi để thích ứng theo từng giai đoạn phát triển của xã hội loài người ...
Con người đặt ra Chúa, Phật, Thánh ... như những đấng Toàn Năng, Toàn Giác, Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ ... là để làm mục tiêu "hướng đến", chứ không phải "đạt đến".
Chủ nghĩa cộng sản đã sai lầm từ trong lý luận, phủ nhận các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội khi mong muốn đạt đến một xã hội "đại đồng", thiết lập chế độ "công hữu" trong một xã hội hoàn toàn không có giai cấp, nên sẽ không có chính quyền ( không có giai cấp cai trị và bị trị ) ; con người hoàn toàn tự giác, "giác ngộ", nên không cần tôn giáo. Hơn nữa, những người kế tục và áp dụng lại dùng bạo lực và cưỡng bức như là một phương tiện duy nhất để đạt được những điều đó, khiến cho mâu thuẫn giai cấp, vốn tồn tại khách quan và là động lực phát triển xã hội, càng trầm trọng thêm ; tinh thần con người không được neo giữ, hướng thượng bởi giáo luật, đức tin nên xã hội ngày một tha hóa bởi lòng tham và thù hận ...
Lão Tử, từ hơn hai ngàn năm trước, cũng đã nói đến "đại đồng", con người sống chan hòa, thuần phác, thuận theo tự nhiên, "tuyệt thánh khí trí", "ích học tổn đạo", cực "vô vi" ..., nhằm đối trọng với cuộc sống đầy hỗn độn, tranh giành, chém giết, cực "hữu vi" của thời Liệt Quốc - Tiên Tần ... Đạo Đức Kinh của Lão Tử là một triết phẩm dùng để tồn tâm dưỡng tánh, giữ được cân bằng trong tinh thần, suy nghiệm sâu xa về lẽ sống ..., hơn là một mô hình xã hội mang tính khả thi ... Nên Lão Giáo đã dần trở thành một tôn giáo. Trong khi Khổng Giáo, thiết lập một hệ thống tôn ti trật tự trong xã hội, đề cao giai cấp qua thuyết "Chính Danh", "Quân Đức", "Tam Cương" ... đã biến thành thuật trị quốc ...
Con người đặt ra Chúa, Phật, Thánh ... như những đấng Toàn Năng, Toàn Giác, Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ ... là để làm mục tiêu "hướng đến", chứ không phải "đạt đến".
Chủ nghĩa cộng sản đã sai lầm từ trong lý luận, phủ nhận các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội khi mong muốn đạt đến một xã hội "đại đồng", thiết lập chế độ "công hữu" trong một xã hội hoàn toàn không có giai cấp, nên sẽ không có chính quyền ( không có giai cấp cai trị và bị trị ) ; con người hoàn toàn tự giác, "giác ngộ", nên không cần tôn giáo. Hơn nữa, những người kế tục và áp dụng lại dùng bạo lực và cưỡng bức như là một phương tiện duy nhất để đạt được những điều đó, khiến cho mâu thuẫn giai cấp, vốn tồn tại khách quan và là động lực phát triển xã hội, càng trầm trọng thêm ; tinh thần con người không được neo giữ, hướng thượng bởi giáo luật, đức tin nên xã hội ngày một tha hóa bởi lòng tham và thù hận ...
Lão Tử, từ hơn hai ngàn năm trước, cũng đã nói đến "đại đồng", con người sống chan hòa, thuần phác, thuận theo tự nhiên, "tuyệt thánh khí trí", "ích học tổn đạo", cực "vô vi" ..., nhằm đối trọng với cuộc sống đầy hỗn độn, tranh giành, chém giết, cực "hữu vi" của thời Liệt Quốc - Tiên Tần ... Đạo Đức Kinh của Lão Tử là một triết phẩm dùng để tồn tâm dưỡng tánh, giữ được cân bằng trong tinh thần, suy nghiệm sâu xa về lẽ sống ..., hơn là một mô hình xã hội mang tính khả thi ... Nên Lão Giáo đã dần trở thành một tôn giáo. Trong khi Khổng Giáo, thiết lập một hệ thống tôn ti trật tự trong xã hội, đề cao giai cấp qua thuyết "Chính Danh", "Quân Đức", "Tam Cương" ... đã biến thành thuật trị quốc ...
Plato, cũng từ hơn hai ngàn năm trước, cũng thất bại khi đề cao giai cấp nhưng lại muốn thiết lập chế độ công hữu để xây dựng "thành quốc lý tưởng". Triết phẩm Cộng Hòa của ông được tham khảo để tìm ra những ưu việt và khiếm khuyết của các cơ chế Quý Tộc, Vị Danh ( Tài Bản ), Quả Đầu, Dân Chủ, Chuyên Chế ( Độc Tài ), nhằm xây dựng một cơ cế xã hội hoàn thiện nhất có thể ...
Để kiềm chế và khắc phục tình trạng "tự do quá độ" của cơ chế Dân Chủ được nêu trong triết phẩm Cộng Hòa bởi Plato, nền Dân Chủ của Hoa Kỳ đã được xây dựng dựa trên nguyên tắc "Tam Quyền Phân Lập" và đệ tứ quyền "Tự Do Ngôn Luận" kiểm soát lẫn nhau, "Tự Do" phải được hiểu là "Tự Do trong khuôn khổ luật pháp" chứ không phải là "Tự Do vô chính phủ". Và phương thức bầu cử Tổng Thống ở Hoa Kỳ thực chất là người dân bầu cử tổng thống một cách gián tiếp thông qua các Đại Cử Tri, thành phần ưu tú, tinh hoa của xã hội do người dân chọn lọc trực tiếp, lá phiếu của các Đại Cử Tri mới mang giá trị quyết định ai là Tổng Thống !
Người Do Thái khi tái lập quốc sau 1945, đã áp dụng một hình thái "cộng sản thuần khiết" : cùng ăn, cùng ở, cùng làm ... trong các "Kibbutz", theo tiếng Do Thái có nghĩa là "Tổ Hợp" – một hình thức tổ chức kinh tế nông - công nghiệp nông thôn, đáp ứng tốt nhất cho thời kỳ đầu gian nan lập quốc, được cả Liên Xô và Mỹ ủng hộ. Nhưng khi đã ổn định, có của ăn của để, thì óc tư hữu phát sinh, họ đã kịp thời điều chỉnh cơ chế chính trị cho thích ứng với sự phát triển của xã hội. Khi đi ngang nhà trẻ công cộng, nơi trẻ con được nuôi dạy chung để cha mẹ rảnh tay lo việc xã hội, một cách thức đã được Plato đề cập đến trong triết phẩm Cộng Hòa để tạo ra giai cấp "Vệ Quốc" và "Trợ Thủ" nhằm xây dựng một "thành quốc lý tưởng", họ thấy trẻ con khi đã có đồ chơi trong tay, vẫn tranh giành đồ chơi với các trẻ khác, họ hiểu rằng óc tư hữu là một thứ bản năng của loài người, không thể triệt tiêu một cách khiên cưỡng, chủ quan, duy ý chí ... Ngoài ra, ý chí phục quốc của người Do Thái còn được hỗ trợ bởi tín ngưỡng tôn giáo : Do Thái Giáo, đức tin về một "Miền Đất Hứa" Jerusalem mà Thiên Chúa đã ban cho họ ...
Tại các quốc gia phương Tây, khi một người tuyên thệ cho một nhiệm vụ quan trọng nào đó như Tổng Thống, nhân chứng ... đều phải đặt tay lên Kinh Thánh và cam đoan về những việc làm và lời nói của mình. Theo John Stuart Mill : "Với một người có niềm tin Tôn Giáo thì dù làm sai hay đúng, sẽ có một ngày Thượng Đế sẽ chất vấn lương tâm". Quốc Ca nước Mỹ có câu "In God is our trust", đồng tiền của nước Mỹ có in câu "IN GOD WE TRUST" ...
Ở các nước phát triển cao cả về xã hội lẫn dân trí, có khái niệm "chính quyền yếu", giới hạn quyền lực của chính quyền trong phạm vi ý nguyện của công dân, chỉ là người đại diện thể chế hóa ý nguyện của công dân thành luật pháp, và điều hành việc thực hiện dưới sự giám sát của công dân, thực sự là một chính quyền "của dân, do dân, vì dân" ... Tôn giáo ở đó vẫn tồn tại như một nhu cầu tâm linh thuần khiết, tự nhiên và tự nguyện ...
Công đồng Vaticano II cũng xác định người tu sĩ không nên dấn thân sâu vào chính trị, nhiệm vụ quan trọng của họ là phụng sự Giáo Hội, ủng hộ Công Lý và Sự Thật. Với Vaticano II, Giáo Hội Công Giáo đã thực sự làm mới lại mình. Đặc biệt, sự thay đổi quan điểm của Giáo Hội về các tôn giáo khác đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình đối thoại giữa các tôn giáo lớn trên thế giới. Gioan Phaolô II ( John Paul II ) là vị giáo hoàng đầu tiên công khai xin lỗi về những lỗi lầm của Giáo Hội trong quá khứ, tổng cộng hơn 100 lần về những hành động sai trái của Giáo Hội Công Giáo, trong đó có sự kiện xưng thú 7 tội của Giáo Hội trước đám đông tại quảng trường Thánh Phêrô ( San Pietro ) vào ngày 12 / 3 / 2000. Ông cũng là vị giáo hoàng đầu tiên đứng ra hòa giải với Chính Thống Giáo Đông Phương và Do Thái Giáo, Anh Giáo ; là vị giáo hoàng đầu tiên đứng ra tổ chức cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo của các tôn giáo khác như Phật Giáo, Khổng Giáo, Chính Thống Giáo Đông Phương, Do Thái Giáo, Cao Đài và Hồi Giáo ; là vị giáo hoàng đầu tiên đến thăm một ngôi đền Hồi Giáo ở Syria ; là vị giáo hoàng đầu tiên tổ chức ra Ngày Giới Trẻ Thế Giới hằng năm ; và cũng là vị giáo hoàng đầu tiên đến thăm vùng Thánh Địa Jerusalem. Gioan Phaolô II cũng đã lên tiếng thừa nhận vai trò của thuyết Tiến Hóa, thuyết Nhật Tâm, nguồn gốc thế giới theo quan điểm khoa học ngày nay, phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường vật chất trên các tầng mây và một địa ngục vật chất nơi con người bị thiêu đốt như trong Thánh Kinh miêu tả ... Tuy nhiên, như nhiều nhà cải cách khác, giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng nhận nhiều lời chỉ trích dữ dội từ phía những người cấp tiến, vô thần cũng như từ giới Kitô Hữu bảo thủ.
Tại các quốc gia phương Tây, khi một người tuyên thệ cho một nhiệm vụ quan trọng nào đó như Tổng Thống, nhân chứng ... đều phải đặt tay lên Kinh Thánh và cam đoan về những việc làm và lời nói của mình. Theo John Stuart Mill : "Với một người có niềm tin Tôn Giáo thì dù làm sai hay đúng, sẽ có một ngày Thượng Đế sẽ chất vấn lương tâm". Quốc Ca nước Mỹ có câu "In God is our trust", đồng tiền của nước Mỹ có in câu "IN GOD WE TRUST" ...
Ở các nước phát triển cao cả về xã hội lẫn dân trí, có khái niệm "chính quyền yếu", giới hạn quyền lực của chính quyền trong phạm vi ý nguyện của công dân, chỉ là người đại diện thể chế hóa ý nguyện của công dân thành luật pháp, và điều hành việc thực hiện dưới sự giám sát của công dân, thực sự là một chính quyền "của dân, do dân, vì dân" ... Tôn giáo ở đó vẫn tồn tại như một nhu cầu tâm linh thuần khiết, tự nhiên và tự nguyện ...
Công đồng Vaticano II cũng xác định người tu sĩ không nên dấn thân sâu vào chính trị, nhiệm vụ quan trọng của họ là phụng sự Giáo Hội, ủng hộ Công Lý và Sự Thật. Với Vaticano II, Giáo Hội Công Giáo đã thực sự làm mới lại mình. Đặc biệt, sự thay đổi quan điểm của Giáo Hội về các tôn giáo khác đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình đối thoại giữa các tôn giáo lớn trên thế giới. Gioan Phaolô II ( John Paul II ) là vị giáo hoàng đầu tiên công khai xin lỗi về những lỗi lầm của Giáo Hội trong quá khứ, tổng cộng hơn 100 lần về những hành động sai trái của Giáo Hội Công Giáo, trong đó có sự kiện xưng thú 7 tội của Giáo Hội trước đám đông tại quảng trường Thánh Phêrô ( San Pietro ) vào ngày 12 / 3 / 2000. Ông cũng là vị giáo hoàng đầu tiên đứng ra hòa giải với Chính Thống Giáo Đông Phương và Do Thái Giáo, Anh Giáo ; là vị giáo hoàng đầu tiên đứng ra tổ chức cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo của các tôn giáo khác như Phật Giáo, Khổng Giáo, Chính Thống Giáo Đông Phương, Do Thái Giáo, Cao Đài và Hồi Giáo ; là vị giáo hoàng đầu tiên đến thăm một ngôi đền Hồi Giáo ở Syria ; là vị giáo hoàng đầu tiên tổ chức ra Ngày Giới Trẻ Thế Giới hằng năm ; và cũng là vị giáo hoàng đầu tiên đến thăm vùng Thánh Địa Jerusalem. Gioan Phaolô II cũng đã lên tiếng thừa nhận vai trò của thuyết Tiến Hóa, thuyết Nhật Tâm, nguồn gốc thế giới theo quan điểm khoa học ngày nay, phủ nhận sự hiện hữu của một thiên đường vật chất trên các tầng mây và một địa ngục vật chất nơi con người bị thiêu đốt như trong Thánh Kinh miêu tả ... Tuy nhiên, như nhiều nhà cải cách khác, giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng nhận nhiều lời chỉ trích dữ dội từ phía những người cấp tiến, vô thần cũng như từ giới Kitô Hữu bảo thủ.
Nói tóm lại, dù có thay đổi ra sao, mức độ thế nào, Thế Quyền và Thần Quyền cũng vẫn sẽ luôn tồn tại song hành tương hỗ bên nhau, cùng giúp xã hội cân bằng, ổn định và phát triển !
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét