Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lê Thái Tổ :
"Vua nhiệt tình, hăng hái dấy nghĩa quân đánh dẹp giặc Minh. Sau 10 năm thì thiên hạ đại định. Đến khi lên ngôi, đã ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu nhập sách vở, mở mang trường học, có thể gọi là có mưu kế xa rộng mở mang cơ nghiệp. Song đa nghi, hiếu sát, đó là chỗ kém."
Nói về chuyện Lê Lợi giết hại công thần, cần phải nhìn rộng ra toàn bộ cục diện lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung và của chế độ Phong Kiến nói riêng ...
Đành rằng, "Điểu Tận Cung Tàng", "Được Chim Bẻ Ná", "Thỏ Hết Thì Chó Săn Bị Nấu" ... vốn vẫn là "quy luật" thường thấy ở các vị đế vương Phong Kiến, và mãi đến ngày nay, trong quá trình tranh đoạt quyền lực ..., nhưng ta hãy thử xem xét vấn đề trên một góc nhìn cao và rộng hơn : Ý Thức Hệ !
Hán Cao Tổ Lưu Bang sau khi nhất thống thiên hạ cũng giết hại công thần, bởi vì, xã hội Trung Quốc thời Tiên Tần, qua các triều đại Hạ, Thương, Chu, thực chất là một dạng Phong Kiến Phân Quyền, giữa Vua - Hoàng Đế và các Vương - Chư Hầu cai trị các tiểu quốc riêng... Cục diện đó, với Ý Thức Hệ Phân Quyền, sau khi đã phát huy hết tính tích cực của nó trong việc chuyển đổi từ xã hội Chiếm Hữu Nô Lệ sang xã hội Phong Kiến, đã đi vào giai đoạn khủng hoảng, không còn thích hợp với thực tế phát triển của xã hội nữa, dẫn đến chiến tranh loạn lạc tranh bá đồ vương vào cuối đời nhà Chu, Xuân Thu Chiến Quốc, đòi hỏi phải có một Ý Thức Hệ mới để điều tiết xã hội ...Rất nhiều triết thuyết của Bách Gia Chư Tử đã được ra đời vào thời kỳ này nhằm cứu vãn xã hội, lập lại trật tự, "bảo thủ" có, "cấp tiến" có, hình thành nên một nền Triết Học Tiên Tần phong phú và rực rỡ ... Đó chính là một bước ngoặc có giá trị "bản lề" dẫn ra hai con đường :
1- Chế Độ Quân Chủ Lập Hiến với Ý Thức Hệ Dân Chủ ;
2- Chế Độ Phong Kiến Trung Ương Tập Quyền với Ý Thức Hệ Độc Tài.
Tần Thủy Hoàng và sau đó là Hán Cao Tổ đã chọn con đường thứ 2, hoàn toàn do những yếu tố khách quan về chính trị, xã hội, dân tộc tính, Ý Thức Hệ ... của thời đại đó chi phối ...
Những người theo phò tá Lưu Bang, đa số đương nhiên vẫn còn mang Ý Thức Hệ Phân Quyền cũ, nghĩa là mong muốn sau khi thành công, họ sẽ được phong Vương và được toàn quyền cai trị một tiểu quốc ... Cho nên, Hán Cao Tổ, với ý chí nhất thống thiên hạ, cai trị thiên hạ bằng một quyền lực tối cao duy nhất thông qua chế độ Phong Kiến Trung Ương Tập Quyền với Ý Thức Hệ Độc Tài : "Ai không phải họ Lưu mà làm vương thì thiên hạ cùng đánh nó", dù muốn dù không, cũng phải diệt trừ những tàn dư của Ý Thức Hệ cũ đó, mà đại diện là những Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố, ...
Tương tự, Lê Thái Tổ cũng phải giết hại công thần, bởi vì, xã hội Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, thực chất cũng là một dạng Phong Kiến Phân Quyền, giữa Vua - Hoàng Đế và các Vương Hầu, Tướng Lĩnh có điền trang, thái ấp, quân đội, luật lệ riêng ... Đến cuối đời nhà Trần, xã hội đi vào khủng hoảng, Hồ Quý Ly đã phải cướp ngôi để có thể tiến hành cải cách toàn diện nhưng thất bại do vấp phải sự chống đối của tầng lớp quý tộc bảo thủ, sợ mất quyền lợi, và cuộc tấn công xâm lược của nhà Minh ... Bình Định Vương Lê Lợi, sau mười năm ròng rả kháng chiến, đã giành được độc lập và lên ngôi Hoàng Đế ...
Lê Thái Tổ cũng đã chọn con đường thứ 2, và đó cũng chính là lý do những "khai quốc công thần" một thời gắn bó xông pha trận mạc phải chịu chung số phận bị diệt trừ : Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Lê Sát, ...
Nhưng những cuộc xung đột về Ý Thức Hệ đó, thực chất, chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp, trong vòng tranh chấp quyền lực giữa những phe phái có địa vị cao trong vương triều, không lan ra và ảnh hưởng trực tiếp đến dân chúng ...
Ở đây, lại nảy sinh thêm một vấn đề cần suy gẫm là : Trong thời điểm bản lề, vào cuối thời Chu, giữa thế kỷ III trước công nguyên, khi đối kháng ý thức hệ trở nên gay gắt, để mở ra những hướng đi mới, người Trung Hoa đã phát sinh ra cả một nền triết học thời Tiên Tần rực rỡ với rất nhiều triết thuyết của Bách Gia Chư Tử nhằm điều tiết xã hội ... Trong khi Việt Nam ta, trong thời điểm bản lề, vào cuối thời Trần, cuối thế kỷ XIV sau công nguyên, lại không thể phát sinh ra một nền triết học nào khả dĩ để điều tiết được xã hội, để đến nỗi, sau khi Lê Thái Tổ giành được độc lập về mặt lãnh thổ, nước ta lại càng phụ thuộc phương Bắc hơn về mặt văn hóa, tinh thần, phải xây dựng một chế độ Phong Kiến Trung Ương Tập Quyền rập theo khuôn mẫu Trung Hoa, với địa vị thống trị tuyệt đối của Nho Giáo ... ! ...
Khu vực Đông Á có một quốc gia đặc biệt, đó là Nhật Bản, đã đi từ Phong Kiến Phong Quyền, giữa Thiên Hoàng và các Tướng Quân ( Sogun ), Đại Danh ( Daimyo ) lên Quân Chủ Lập Hiến thời Minh Trị Thiên Hoàng qua con đường Canh Tân ... Đó là lý do tại sao Nhật Bản trở thành quốc gia châu Á duy nhất giữ được độc lập trước làn sóng thực dân phương Tây, và phát triển nhanh chóng, hiện đại nhất nhì thế giới về mọi mặt, mà vẫn bảo lưu được các giá trị truyền thống, cho đến tận ngày nay ...
Thái Lan chuyển từ Quân Chủ Chuyên Chế sang Quân Chủ Lập Hiến năm 1932 bằng một cuộc đảo chính, và nằm dưới chế độ độc tài quân sự. Nền Dân Chủ của Thái Lan được thành lập sau sự kết thúc của chế độ độc tài quân sự vào năm 1992. Dù gặp nhiều bất ổn về chính trị, nhưng với chính sách ngoại giao khôn khéo, lập trường Trung Lập, Vương Quốc Thái Lan luôn tránh được các vòng xoáy chiến tranh, giữ được hòa bình và ổn định để phát triển ...
Trên thế giới, Anh là nước chuyển từ Quân Chủ Chuyên Chế ( thực chất vẫn còn Phân Quyền giữa Vua - Hoàng Đế và các Công - Hầu - Bá - Tử - Nam Tước ... ) sang Quân Chủ Lập Hiến sớm nhất, vào thế kỷ XII, và là động lực để Vương Quốc Anh phát triển mạnh mẻ cho đến ngày nay, luôn nằm trong số các cường quốc hàng đầu thế giới ...
Với tham vọng làm bá chủ thế giới, nước Đức thời Quốc Xã của Hitler đã thi hành chính sách diệt chủng làm chết 5,7 triệu người Do Thái, là nhằm tạo vị thế độc tôn cho "chủng tộc Aryan thượng đẳng", cai trị thế giới bằng "Quyền Lực Cứng", dẫn đến một "cuộc tàn sát kinh khủng trên diện rộng đến nỗi để lại một vết sẹo kinh hoàng trong nền văn minh của nhân loại và chắc chắn nó sẽ còn tồn tại khi mà con người còn sống trên Trái Đất" ...
Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết của Lenin, Stalin đã thi hành chính sách "Chuyên Chính Vô Sản", một hình thức độc tài, đối với mọi tầng lớp nhân dân, "với thương vong trong thời kỳ Stalin, thay đổi theo các tiêu chí và phương pháp sử dụng cho các ước tính, từ 8 triệu tới 61 triệu", nhằm đưa Chủ Nghĩa Cộng Sàn, với Ý Thức Hệ Vô Sản, một điều không tưởng, thành hiện thực ...
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thời Mao Trạch Đông với Công Xã Nhân Dân, Đại Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản, Đại Nhảy Vọt ... "đã gây ra cái chết cho 77 triệu người", để đi lên Cộng Sản Chủ Nghĩa ...
Cộng hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên bị "Nhiều tổ chức nước ngoài xem là một chế độ độc tài kiểu Stalin và có một hồ sơ nhân quyền thuộc loại tồi tệ nhất trên thế giới. Nạn đói xảy ra liên miên ở nước này sau khi Liên Xô sụp đổ, khiến hàng triệu người chết đói. Đất nước này được cho là một quốc gia nghèo đói và bị cô lập với khoảng 1/4 dân số cần được quốc tế hỗ trợ lương thực theo ước tính của Liên Hiệp Quốc, nhưng Bắc Triều Tiên vẫn tự hào là một số nơi ở thủ đô Bình Nhưỡng đã trở thành "xứ thần tiên xã hội chủ nghĩa".
Campuchia Dân Chủ của Pol Pot cũng thi hành chính sách diệt chủng đối với chính dân tộc mình, "dẫn đến cái chết của khoảng 1,7 triệu người Campuchia ( khoảng 26% dân số tại thời điểm đó )", cũng là nhằm để tiến nhanh lên Cộng Sản Chủ Nghĩa, "qua mặt" các "đàn anh Xã Hội Chủ Nghĩa" khác ...
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, với Ý Thức Hệ Vô Sản, tiến hành Cải Cách Ruộng Đất, "nhằm mục đích tiêu diệt kẻ thù giai cấp", "Người ta ước tính rằng khoảng 50.000 tới 172.000 người thiệt mạng trong các chiến dịch chống lại phú nông và địa chủ giàu có. Rosefielde thảo luận về dự toán cao hơn nhiều là từ 200.000 đến 900.000, trong đó bao gồm bản tóm tắt việc hành quyết các thành viên Việt Nam Quốc Dân Đảng".
"Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 2 đến 5 triệu người Việt ( tùy từng nguồn khác nhau )".
"Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày chiến tranh Việt Nam chấm dứt ... Hơn 125.000 người Việt Nam đến Hoa Kỳ vào cuối xuân 1975 vì sợ chính quyền mới trả thù. Ngoài ra khoảng 20.000 người đến Âu Châu và các nước khác".
"Sau năm 1975 ở miền Nam có hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện. Theo Phạm Văn Đồng, con số người phải trải qua giam giữ sau ngày 30/4/1975 là hơn 200.000 trong tổng số 1 triệu người ra trình diện. Tính đến năm 1980 thì chính phủ Việt Nam công nhận còn 26.000 người còn giam trong trại. Tuy nhiên một số quan sát viên ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn bị giam. Ước tính của Hoa Kỳ cho rằng khoảng 165.000 người đã chết trong khi bị giam".
"Từ cuối năm 1975 đến năm 1995 trải qua 20 năm đã có 839.200 người dân Việt rời bỏ Việt Nam đến các trại tỵ nạn. Con số những người chết trong biển Ðông và núi rừng biên giới Thái – Miên là các số thống kê không bao giờ ghi lại được. Con số ước lượng là từ 400.000 đến 500.000 người" ...
"Kể từ 1990 đến nay, các chương trình đoàn tụ, đón tù cải tạo, con lai, tái định cư, tỵ nạn tình nguyện trở về đã đưa vào Mỹ và nhiều nước Tây phương các đợt di dân mới. Những người này không qua các trại tỵ nạn Ðông Nam Á. Riêng tại Hoa Kỳ, con số này tính đến 2005 lên đến 700.000 người và cộng với đợt di tản 1975 ( 130.000 ) và thuyền nhân ( 424.600 ). Theo thống kê dân số năm 2000, hiện đang có 1.223.736 người Mỹ gốc Việt. Họ là nhóm di dân Á Châu lớn thứ năm sau các nhóm di dân Trung Hoa, Philippines, Ấn Ðộ và Ðại Hàn".
"Ngày 2 tháng 7 năm 1976, nước Việt Nam được đặt Quốc Hiệu là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", với Ý Thức Hệ Vô Sản, với những "học tập cải tạo", "cải tạo tư bản tư doanh", "cải tạo công thương nghiệp", "kinh tế mới", "đổi tiền", "xét lý lịch" ... vv ...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét