Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

MỸ XÂM LĂNG VIỆT NAM !?

   Ngày nay mà còn cứ quan niệm rằng chỉ có Mỹ xâm lăng Việt Nam thì chẳng thể nào hiểu được toàn diện vấn đề, rút tỉa được những bài học từ quá khứ đau thương, tìm kiếm những quan hệ đồng minh bền vững, hầu giúp nước Việt hòa hợp với năm châu, thoát khỏi cái thực tại "nhược tiểu" trong cơn mê muội "vinh quang", "vĩ đại", "thần thánh" ... 

   Nga Cộng và Trung Cộng đã "viện trợ" lương thực và vũ khí, khí tài, trang bị cho Bắc Việt tiến hành chiến tranh thì gọi là gì !? Cố vấn và quân đội Nga Cộng, Trung Cộng, Bắc Hàn có tham chiến ở Bắc Việt không !?

   Theo "Việt-Trung-Xô thời chiến và thời nay"  ( http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/12/121231_vietnam_war_china_russia.shtml )

   [ Bob Seals trong một bài đăng trên trang Military History hồi 2008 đã trích nhiều từ các tác giả Trung Quốc có sách xuất bản ở Phương Tây, Địch Cường (Qiang Zhai) và Lý Hiểu Binh (Li Xiaobing) viết rằng Bắc Kinh tiếp tục hỗ trợ cho Hà Nội sau chiến tranh Đông Dương lần 1 dù viện trợ quân sự giai đoạn chiến tranh Đông dương lần 2 (1965-1975) có mục tiêu chính trị khác trước.

   Đặc biệt, sự dính líu quân sự của Trung Quốc vào thời gian chiến tranh Mỹ Việt khác cuộc chiến Pháp Việt ở chỗ có sự hiện diện của hàng vạn quân Trung Quốc ở miền Bắc Việt Nam, chủ yếu trong các binh chủng công binh và phòng không.

   "Tài liệu tối mật của CIA ghi nhận bảy đơn vị lớn của Quân Giải phóng Trung Quốc (PLA) tại Bắc Việt, gồm sư đoàn phòng không 67, và con số ước tính 25 đến 45 nghìn quân tác chiến Trung Quốc cả thẩy.

   Ngoài phòng không, PLA còn cung cấp tên lửa, đạn pháo, hậu cần, đường xe lửa, xe phá mìn và các đơn vị công binh hàn gắn lại cơ sở hạ tầng bị các đợt oanh kích của Hoa Kỳ phá hủy."

   Giới nghiên cứu lịch sử chiến tranh Việt Nam cho rằng đây là vai trò rất quan trọng vì từ năm 1965 đến 1972, Hoa Kỳ đã ném hơn một triệu tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam.

   Đỉnh điểm của sự can dự từ phía Trung Quốc vào cuộc chiến Việt Nam là năm 1967, khi tổng số lực lượng phòng không lên tới 17 sư đoàn, với 150 nghìn quân.

   Bài trên Military History cũng nói phía Trung Quốc cho rằng họ đã bắn hạ 1707 máy bay Mỹ trên vùng trời Việt Nam.

   Nhưng dù trước đó, ông Hồ Chí Minh đã đề nghị ông Mao Trạch Đông trợ giúp quân sự, quan hệ Trung - Việt có chiều hướng xấu đi từ 1970 vì lý do bất đồng quanh Hòa đàm Paris.

   Ngoài ra, quan hệ Trung - Việt cũng chịu ảnh hưởng của bang giao Trung - Xô không còn tốt, với việc tiếp cận Washington của Bắc Kinh, và Trung Quốc bắt đầu rút dần quân của họ về nước.

   Dù vậy, Bắc Kinh lại tiếp tế mạnh cho Hà Nội từ sau chiến dịch Xuân – Hè 1972 (Hoa Kỳ gọi là Easter Offensive, hay Mùa Hè Đỏ Lửa theo cách gọi của Việt Nam Cộng hòa), khi lực lượng cộng sản miền Bắc thiệt hại nặng, mất tới 450 xe tăng và chừng 100 nghìn quân.

   Đợt tấn công của quân Bắc Việt ở miền Nam bằng 20 sư đoàn, đông hơn số quân Tướng Patton chỉ huy thời Thế chiến 2 tại châu Âu, đã phải trả một cái giá khủng khiếp, theo đánh giá của Hoa Kỳ.

   Nhưng từ năm 1973, Trung Quốc lại cung cấp cho Việt Nam về vũ khí và xe tăng đủ phục hồi 18 sư đoàn, góp phần vào trận tấn công cuối cùng, đem lại thắng lợi cho Hà Nội vào tháng 4/1975.

   Từ sau Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu xuất hiện tin tức hoặc sử liệu nói về sự hiện diện của quân đội Liên Xô tại miền Bắc Việt Nam.

   Hồi 2008, nhân chuyện Thượng nghị sỹ John McCain ra tranh cử tổng thống Mỹ, hãng tin Nga (RIA Novosti) đưa tin một cựu phi công Liên Xô, ông Yury Trushvekin, nói chính ông là người đã bắn hạ phi cơ của ông John McCain trên bầu trời Hà Nội năm 1967.

   Nhưng hãng tin Nga cũng nói sự hiện diện của quân đội Liên Xô tại Bắc Việt Nam hồi đó "chưa bao giờ được công nhận chính thức" dù sau khi Liên Xô tan rã các nhóm "cựu chiến binh từ Việt Nam" của Nga vẫn làm lễ kỷ niệm không chính thức.

   Có vẻ như khác với người Trung Quốc, các sỹ quan và binh sỹ Liên Xô đã tác chiến cùng đồng đội Việt Nam, như theo lời kể của ông Trushvekin.

   Trong một bài gần đây trên trang topwar.ru bằng tiếng Nga được một số trang mạng tiếng Việt dịch lại, một cựu sỹ quan Nga khác đã xác nhận chuyện cùng chiến đấu và sinh hoạt với bộ đội Việt Nam.

   Ông Nicolai Kolesnhik, một cựu chiến binh Nga ở Việt Nam, trả lời trang web của Nga, nói từ năm 1965, ông cùng các đơn vị Liên Xô tham gia phòng thủ Bắc Việt Nam bằng tên lửa chống lại không quân Hoa Kỳ.

   Ông Kolesnhik cũng nói về sự giúp đỡ quân sự của Liên Xô rất lớn "khoảng hai triệu USD một ngày trong suốt tất cả những năm chiến tranh" và trong đó vũ khí, khí tài chiếm số lượng lớn.

   "Hai nghìn xe tăng, bảy nghìn pháo và súng cối, hơn năm nghìn súng cao xạ phòng không, 158 tổ hợp tên lửa phòng không, hơn 700 máy bay, 120 máy bay trực thăng, hơn 100 tàu chiến," ông Koleshnik nói.

   Ông cũng cho biết: "Từ tháng 7/1965 đến cuối 1974 gần 6500 nghìn sĩ quan và tướng lĩnh và hơn 4500 binh lính hạ sĩ quan của các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia tác chiến tại Việt Nam." ]

   Quân đội Mỹ hiện diện một cách công khai ở Nam Việt chính là cái cớ để Bắc Việt chuyển danh xưng từ "chiến tranh ý thức hệ", "ai thắng ai", "nội chiến" ..., thành "chiến tranh vệ quốc", "chiến tranh chống xâm lược", "chiến tranh giải phóng dân tộc" ..., và đương nhiên Bắc Việt phải hạn chế và giữ bí mật sự hiện diện của các quân đội nước khác trên đất Bắc để giữ "chính nghĩa" "chống xâm lược Mỹ" cho mình. Bắc Việt muốn mở chiến dịch nào thì đều phải "xin phép" từ các "đàn anh" trong phe Xã Hội Chủ Nghĩa, nếu các "đàn anh", vì quyền lợi của chính họ, không "cho phép" thì sẽ không có viện trợ vũ khí ( chiến dịch Hồ Chí Minh tiến hành được là do Bắc Việt đã bí mật "để dành" vũ khí, nằm ngoài sự "cho phép" của các "đàn anh" )  ...

   Sau Đệ II Thế Chiến, Mỹ đã cùng các đồng minh Tây Âu thành lập khối Hiệp Ước Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương, NATO, để ngăn chặn nguy cơ ảnh hưởng của Chủ Nghĩa Cộng Sản và Liên Xô lúc đó đang trên đà phát triển rất mạnh ở Châu Âu có thể gây phương hại đến an ninh của các nước thành viên. Việc thành lập NATO dẫn đến việc các nước Cộng Sản thành lập khối Warszawa để làm đối trọng. 

   Mỹ đưa quân tham chiến ở Việt Nam, cũng như đã từng tham chiến ở Triều Tiên ( 1950 - 1953 ), là để lập vành đai phòng thủ Châu Á - Thái Bình Dương, gồm Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Phi Luật Tân, Thái Lan ... nhằm ngăn chận "Làn Sóng Đỏ" lan tràn từ Nga Cộng, Đông Âu, qua Trung Cộng ( Đông Á ) đến Việt Nam ( Đông Nam Á ). Ta có thể xem đó là chiến lược "bảo vệ Thế Giới Tự Do", "bảo vệ nước Mỹ từ xa", "đưa chiến tranh ra ngoài biên giới nước Mỹ" ... Và Việt Nam, Triều Tiên đã trở thành bãi chiến trường ... ! Nhưng tại sao dân tộc Triều Tiên có thể hưu chiến sau 3 năm, mà dân tộc Việt Nam thì không !?

   Linh mục Cao Văn Luận đã từng nói với ông Nguyễn Khắc Viện ( trích Bên Dòng Lịch Sử 1940-1965 ) :

   "Bảo Đại được Pháp ủng hộ, Hồ Chí Minh thì được Nga và Trung Cộng ủng hộ. Nếu phải so sánh chọn lựa giữa Tàu, Pháp, Mỹ, tôi thấy Mỹ còn chưa nguy hiểm bằng Tàu và Pháp ... Với Mỹ, chế độ thực dân kiểu cũ đã cáo chung. Mỹ đã thắng Nhật, rồi lại giúp Nhật phục hưng kinh tế mạnh mẽ. Mỹ đã vào Âu Châu, rồi cũng lại giúp Âu Châu. Áp lực của Mỹ, nếu có theo chân ông Diệm dồn vào Việt Nam, cũng chỉ là một thứ áp lực kinh tế. Còn bên các anh, con đường nguy hiểm hơn nhiều vì sau lưng các anh là Trung Cộng. Vì quyền lợi của Tàu, Mao Trạch Đông sẽ phải thôn tính Đông Nam Á".
   
   Cố Vấn Ngô Đình Nhu, người từng là "bộ não" của chính thể Đệ I Cộng Hòa, đã tiên lượng trong "Chính Đề Việt Nam", được soạn thảo từ những năm 1957-1960, và chắc chắn đã được ấp ủ một thời gian khá lâu trước đó :

   "Các lãnh đạo miền Bắc, khi đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.

   Sở dĩ tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa hình thành, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.

   Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm lối thoát cho các nhà lãnh đạo cộng sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nay họ vẫn tiếp tục ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng.

   Vì vậy cho nên, sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự  kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc, và cứu dân tộc khỏi ách thống trị một lần nữa".

   Mao Trạch Đông đã từng tuyên bố vào tháng 8 năm 1965, trong cuộc họp của bộ chính trị ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung Quốc :

   "Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malayxia và Singapo … Một vùng như Đông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản … xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy … Sau khi giành được Đông Nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây …" 

   Thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu gần đây đã nhận xét :

   "Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam. Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN".

   Có ý kiến cho rằng : "Mỹ đánh Việt Nam, trực tiếp và thông qua chế độ MNVN" !? 

   Nếu dùng từ "đánh", thì chính xác không phải Mỹ "đánh" "Việt Nam", mà Mỹ "đánh" "Miền Bắc Việt Nam", "Cộng Sản Việt Nam", "Tiền Đồn Của Phe Xã Hội Chủ Nghĩa ( Cộng Sản ) Trên Vùng Đông Nam Châu Á", nhằm ngăn chận "Làn Sóng Đỏ" ... Mà, "Miền Bắc Việt Nam" thì chưa phải là toàn bộ "Đất Nước Việt Nam ; "Cộng Sản Việt Nam" thì ( theo quan niệm của tôi, và của không ít người nữa ) không phải là ( đại diện ) "Dân Tộc Việt Nam" ( cho đến tận ngày nay ). Còn làm "Tiền Đồn Của Phe Xã Hội Chủ Nghĩa ( Cộng Sản ) Trên Vùng Đông Nam Châu Á" thì cũng là do "Cộng Sản Việt Nam" chọn, chứ không phải do "Dân Tộc Việt Nam" nói chung, "Nhân Dân Miền Bắc Việt Nam" nói riêng, chọn.

   "Đánh", nếu hiểu theo nghĩa là "xâm lược", nếu chỉ hiểu theo nghĩa đen, gây chiến, chiếm đóng, hiện diện bằng quân đội, thì giải thích như thế nào về cố vấn quân sự và quân đội Trung Cộng có mặt tại chiến trường Điện Biên Phủ, giải thích thế nào về cố vấn quân sự Liên Xô hiện diện trước mỗi chiến dịch, giải thích thế nào về khu nghĩa trang phi công Bắc Hàn trên đất Bắc ... !? Giải thích thế nào về Quân Đội Nhân Dân Việt Nam "đưa chiến tranh ra ngoài lãnh thổ Việt Nam", "làm nhiệm vụ quốc tế" trên đất Campuchia, "giải phóng" nhân dân Campuchia khỏi họa "Diệt Chủng", thành lập "Chính Quyền Nhân Dân Campuchia" với "Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng" vốn chỉ là trưởng một phân xưởng tại nhà máy nhiệt điện Việt Trì, "Tư Lệnh Binh Đoàn I" vốn nguyên là một thượng úy ở thị đội Sơn Tây, "Cục Phó Cục Cán Bộ Bộ Quốc Phòng" vốn chỉ là một nữ y tá 26 tuổi ở quân khu VII, "Bí Thư Tỉnh Ủy" vốn là người gác cổng một nhà máy !? Vậy nếu giải thích là quân đội Mỹ tham chiến "làm nghĩa vụ quốc tế" ở Việt Nam nhằm "giải phóng" nhân dân Việt Nam khỏi "họa" Cộng Sản thì sao !? Bởi vì ( theo quan niệm của tôi, và của không ít người nữa ) Cộng Sản là "họa", chưa bao giờ là "phúc", không chỉ ở Việt Nam, mà còn trên khắp thế giới. ( cục diện thế giới ngày nay đã chứng minh điều đó ).

   Việt Nam, từ thời các chúa Nguyễn vào mở đất phương Nam, đã có quân đội hiện diện trên đất Cao Miên, lập Trấn Tây Thành để "bảo hộ" Cao Miên trước sức xâm lấn của Xiêm La, chỉ đến đời vua Thiệu Trị mới rút khỏi Trấn Tây Thành đóng ở Phnom Penh. Đương nhiên, sự "bảo hộ" đó phải đem lại cho Việt Nam nhiều quyền lợi về Quân Sự, Chính Trị, Kinh Tế ..., nhất là về đất đai, miền đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, tức miền Tây Nam Bộ hiện nay ... Nhưng đó là thời Phong Kiến, tình thế sau Đệ II Thế Chiến đã khác, phong trào "Giải Thực" bùng nổ và phát triển mạnh trên khắp các châu lục, Chủ Nghĩa Thực Dân đã chuyển từ "Thực Dân Cũ" - xâm chiếm thuộc địa bằng Quân Sự, sang "Thực Dân Mới" - sử dụng Chủ Nghĩa Tư Bản, Toàn Cầu Hóa và các công cụ Kinh Tế, Chính Trị, Văn Hóa ... để kiểm soát một quốc gia khác. Mỹ lập căn cứ quân sự, hiện diện quân đội tại Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Thái Lan ..., nhưng chỉ có thể đặt quan hệ đồng minh để duy trì sự cân bằng lực lượng với phe Cộng Sản, chứ không thể xâm chiếm làm thuộc địa.

   Còn "thông qua chế độ MNVN", thì chính phủ Miền Nam Việt Nam đứng đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm được thành lập dựa trên cuộc "Trưng Cầu Dân Ý", truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại, năm 1955 ( có gian lận hay không, như trường hợp Thủ Tướng Lý Quang Diệu của Singapore, như các thủ đoạn chính trị, thì lại là một vấn đề khác ). Cho nên, trên danh nghĩa, đây vẫn là một chính quyền "hợp pháp". Chỉ sau cuộc đảo chính 1963, chấm dứt nền Đệ I Cộng Hòa, quân đội Mỹ mới chính thức hiện diện trên đất Miền Nam, Nam Việt mất "chính nghĩa Quốc Gia" kể từ đó, và Bắc Việt có "chính nghĩa chống xâm lăng" cũng kể từ đó ... Chuyện "chính nghĩa", xét cho cùng, cũng chỉ là "thủ đoạn chính trị" mà thôi.

   Cuộc "Hiệp Thương Tổng Tuyển Cử Thống Nhất Hai Miền Nam Bắc Việt Nam" không thể thực hiện được, thì hai miền đều đổ lỗi cho nhau, như vẫn thường thấy trong các cuộc tranh chấp chính trị. Nhưng cũng có thể thấy sự vi phạm của Miền Bắc ở chỗ không tập kết hết cán bộ và quân nhân về phía bên kia vĩ tuyến 17 mà vẫn để lại "nằm vùng", cản trở nhân dân miền Bắc di cư vô miền Nam theo tinh thần Hiệp Định Genève 1954, tìm cách kiểm soát lá phiếu bầu cử bằng nhiều biện pháp thiếu minh bạch ... vv ... Cũng như sau Hiệp Định Đình Chiến Paris 1973, các bên đều đổ lỗi cho nhau vi phạm lệnh ngừng bắn, nhưng rồi rốt cục Miền Bắc lại "giải phóng" Miền Nam bằng súng đạn vào năm 1975, với sự hả hê "ai thắng ai" : "chúng ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, và chúng ta đã thành công trong việc cắm lá cờ quốc tế mác-lê trên toàn cõi Việt Nam" ( lê duẫn ) ...

   Nói một cách khách quan hơn, phải là : quân đội Mỹ hiện diện ở Việt Nam chẳng phải để xâm lược Việt Nam, cũng chẳng phải để bảo vệ Việt Nam, mà nhằm một mục đích cao hơn, có tính toàn cầu, toàn cục, là thông qua Miền Nam Việt Nam để tham chiến chống Chủ Nghĩa Cộng Sản, mà đại diện là Trung Cộng, thông qua Miền Bắc Việt Nam, nhằm tạo thế cân bằng quyền lực trong một thế giới lưỡng cực đối đầu giữa hai phe Tư Bản và Cộng Sản. Và sau khi đã ly gián được phe Cộng Sản ( giữa Liên Xô và Trung Cộng ), lôi kéo, "vô hiệu hóa" được Trung Cộng qua việc Tổng Thống Nixon và Ngoại Trưởng Kissinger qua thăm Trung Quốc và ra Thông Cáo Thượng Hải 1972, thì cái "phương tiện" là Miền Nam Việt Nam không còn giá trị là một mắt xích quan trọng trong vành đai phòng thủ, không cần phải duy trì bằng mọi giá, đã bị Mỹ "hy sinh" ...

   Trung Cộng ủng hộ Miền Bắc Việt Nam, cũng như đã từng ủng hộ Bắc Triều Tiên ( bằng cách đưa "Chí Nguyện Quân" tham chiến ), là nhằm tạo ra một vùng đệm, một hàng rào bảo vệ cho Trung Cộng trước Chủ Nghĩa Tư Bản. Và khi đã ngã theo Mỹ, nguy cơ không còn, Trung Cộng cũng "hy sinh" cái "hàng rào" là Miền Bắc Việt Nam ... Ngoài ra, Trung Cộng, cũng như đối với Triều Tiên, không hề muốn Việt Nam thống nhất, vững mạnh, thoát khỏi ách "Hán hóa", nên đã đề nghị giúp Tổng thống Dương Văn Minh của Việt Nam Cộng Hòa giữ lại Miền Nam trong những ngày cuối tháng 4 / 1975 ... 

   Nga Cộng ủng hộ Miền Bắc Việt Nam là để tìm một cửa ngỏ thông về hướng đông ra Thái Bình Dương đã bị Trung Cộng bịt kín. Khi không thể lập được căn cứ hải quân ở vịnh Cam Ranh, và khi Liên Xô sụp đổ, Nga cũng bỏ rơi Việt Nam ... 

   Trên "bàn cờ" Thế Giới, các nước lớn như những "người chơi cờ", các nước nhỏ chỉ như những "con cờ". Khi cần, để dành lấy lợi thế, hay thắng lợi chung cuộc cho "người chơi cờ", các "con cờ" có thể bị "thí" ...

   Người Việt Nam chúng ta cần phải thoát ra khỏi thân phận "con cờ" này ... !!! ...

   Sau Đệ II Thế Chiến, các cường quốc đều "thấm mệt", nên đều phải cân nhắc khi phát động chiến tranh : Nga Cộng không ủng hộ Bắc Hàn đánh Nam Hàn vì ngại va chạm với Mỹ, Mỹ cũng không muốn đánh đến biên giới Trung - Hàn vì ngại va chạm với Trung Cộng ... ; Mỹ nhảy vào Miền Nam Việt Nam chỉ để ngăn chận tham vọng "Làn Sóng Đỏ" từ Trung Cộng, bằng lòng phòng thủ Nam Việt thông qua việc lập hàng rào điện tử McNamara, không có ý định xâm lăng Bắc Việt vì ngại va chạm với Trung Cộng ... Nếu dân tộc Việt Nam khôn ngoan biết nhận định tình thế thì đã chấp nhận phân chia như Nam - Bắc Hàn, ngày nay Nam Việt đã phát triển đến đâu trên trường quốc tế !?

   Không thể phủ nhận người Pháp và người Mỹ đã biến Việt Nam thành trung tâm Đông Dương, trọng điểm chiến lược trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, biến Sài Gòn thành "Hòn Ngọc Viễn Đông". Nếu dân tộc Việt Nam biết khôn ngoan nhẫn nhục không để bị vướng vào chiến tranh triền miên, thì vị trí cảng trung chuyển hàng hóa và dịch vụ quốc tế có thể sẽ nằm ở Sài Gòn chứ không phải ở Singapore, vì Sài Gòn còn có cả một thị trường nội địa rộng lớn phía sau, có thể giải phóng được một lượng hàng hóa đáng kể, và dĩ nhiên, dịch vụ ngân hàng cùng hàng loạt các dịch vụ khác cũng sẽ nhờ đó mà phát triển ... Ngoài ra, Việt Nam còn có cảng Cam Ranh để phòng thủ chiến lược, cảng Hải Phòng cho thị trường phía Bắc ... Bao nhiêu cơ hội đã vuột qua tay chỉ vì cái "dân tộc tính" NGU DỐT, DỐI TRÁ, HIẾU CHIẾN ... Ngày nay, thế cục đã an bài, khó có thể thay đổi, lại thêm một chính phủ độc tài, tham nhũng, tráo trở ..., không thể có một triết thuyết đúng đắn dẫn đường để hoạch định một chiến lược phát triển bền vững nhất quán và ổn định lâu dài, tạo được lòng tin cho các nhà đầu tư lớn ... Nếu không có gì thay đổi, Việt Nam chỉ có thể dậm chân tại chỗ nhìn các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, có ít thuận lợi hơn nhưng lại khéo biết chọn lựa lập trường chính trị và quan hệ đồng minh, chớp lấy thời cơ để phát triển ... ! ... 

   Chúng ta đang sống trong một thời đại mà mọi hình thái Văn Hóa, Xã Hội, Kinh Tế, Chính Trị, Quân Sự ... của một quốc gia hay vùng lãnh thổ đều có quan hệ mật thiết đến các quốc gia hay vùng lãnh thổ khác, hình thành nên những khối liên minh nhằm cân bằng cán cân quyền lực, lập trường Trung Lập chỉ mang tính tương đối. Cho nên, không một quốc gia hay vùng lãnh thổ nào có thể "Độc Lập" theo nghĩa đen là "Đứng Một Mình", và việc chọn lựa lập trường chính trị có tính quyết định quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển ...

   Nhận định về quá khứ cần chính xác, khách quan, trên cơ sở toàn cục, thì mới có thể hoạch định đúng đắn được chiến lược tồn tại và phát triển trong hiện tại và tương lai ...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét